Sốt siêu vi dễ lây nhiễm nếu không đeo khẩu trang

0
16

Sốt siêu vi là một căn bệnh phổ biến có thể gặp phải ở cả người lớn và trẻ em. Người bệnh cần thực hiện các biện pháp như đeo khẩu trang , cách ly, tránh đến nơi đông người để hạn chế nguy cơ lây bệnh cho người khác.

Sốt siêu vi là một bệnh lý do nhiễm siêu vi gây ra. Trung bình người trưởng thành có thể bị sốt siêu vi từ 2 đến 3 lần mỗi năm, trẻ em có thể bị nhiều hơn khoảng 5 đến 6 lần trong năm. Đây là một bệnh lý cấp tính, đa số tự giới hạn trong vòng 2 tuần. Thường chỉ cần điều trị triệu chứng tại nhà và bệnh thường tự hết hoàn toàn.

Tuy nhiên, cũng có một vài trường hợp bệnh có thể diễn tiến nặng trên một số người bệnh có bệnh lý mạn tính (đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư, suy giảm miễn dịch….) hay một số đối tượng đặc biệt ( người lớn tuổi , trẻ nhỏ, béo phì, có thai…) do các biến chứng gây ra do sốt siêu vi và cần điều trị tích cực tại bệnh viện.

Sốt siêu vi hay còn được gọi với tên khác là sốt virus. Có hơn 200 loại siêu vi khác nhau có thể là nguyên nhân gây nên sốt siêu vi, chúng được chia thành nhiều họ khác nhau trong đó phổ biến nhất có thể kể đến các họ như Rhinovirus, Adenovirus, Coronavirus, Enterovirus, Influenza virus (virus cúm). Thường khó phân biệt loại virus bị nhiễm do biểu hiện lâm sàng tương tự nhau, chỉ khác nhau ở một vài đặc điểm nhỏ về lâm sàng. Nhóm gây bệnh phổ biến nhất là nhóm Rhinovirus chiếm khoảng 50% số trường hợp sốt siêu vi với những đặc điểm triệu chứng liên quan đến đường hô hấp trên như ho, sổ mũi, chảy nước mũi. Nhóm thường gặp thứ 2 là nhóm virus corona chiếm 15% các trường hợp, COVID-19 chỉ là một chủng trong họ này. Nhóm lớn thứ 3 thường gặp là nhóm Influenza virus chiếm khoảng 10%.

Căn bệnh phổ biến trong mùa lạnh và thời khắc giao mùa

Ở các quốc gia thuộc vùng khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, virus tồn tại ở tất cả các thời điểm trong năm chứ không chỉ riêng mùa lạnh hay thời điểm giao mùa. Sốt siêu vi là bệnh lý thường gặp tại khoa cấp cứu và các phòng khám ngoại trú. Đây là một bệnh lý có tính lây nhiễm cao, do đó việc phòng ngừa sốt siêu vi cần được chú trọng thường xuyên, liên tục nhất là trong mùa lạnh hay lúc giao mùa vì những sự thay đổi của thời tiết có thể làm cơ thể suy yếu giúp siêu vi dễ dàng tấn công và gây bệnh hơn.

Ai trong chúng ta đều có nguy cơ mắc sốt siêu vi, dù là trẻ hay già, ở bất cứ cơ địa nào. Câu hỏi được đặt ra là sốt siêu vi ở nhóm đối tượng nào thường xuất hiện triệu chứng nặng và biến chứng nguy hiểm?

Sốt siêu vi dễ lây nhiễm nếu không đeo khẩu trang - Hình 1

Các biến chứng thường gặp của sốt siêu vi là viêm phổi do virus hay do bội nhiễm vi trùng thường gây tử vong nhiều nhất. Các biến chứng khác bao gồm viêm não, màng não, viêm cơ gây hủy cơ và suy thận cấp. Ngoài ra bệnh còn làm nặng lên các bệnh mạn tính có sẵn của người bệnh. Dấu hiệu nặng thường gặp nhất là khó thở, đau ngực, đau bụng, ói nhiều, thay đổi ý thức…

Các cơ địa đặt biệt như trẻ nhỏ dưới 4 tuổi, phụ nữ có thai và người trên 65 tuổi có các bệnh kèm theo như suy tim, tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen, suy giảm miễn dịch, béo phì, đái tháo đường, ung thư, HIV… thường dễ bị các biến chứng do sốt siêu vi. Người bệnh cần đến cơ sở y tế để được tư vấn, thăm khám và điều trị.

Bất ổn từ yếu tố môi trường

Virus lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp như ho, hắt hơi, tiếp xúc gần trong phạm vi 2 mét. Qua bề mặt như bắt tay, chạm tay vào các bề mặt có nhiễm virus như nắm cửa, quầy hàng, tay vịn cầu thang, điện thoại…

Sốt siêu vi là một bệnh lây nhiễm có liên quan đến virus và sự lây truyền do đó nguy cơ nhiễm bệnh của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào khả năng đề kháng của cơ thể mà còn phụ thuộc vào mức độ, nguy cơ tiếp xúc với nguồn bệnh của cơ thể. Trong môi trường kín, thời gian tiếp xúc nguồn lây khoảng 30 tiếng trong vòng 2 ngày khả năng bị lây bệnh khoảng 25%. Nếu cơ thể khỏe mạnh, môi trường thông thoáng, dùng các biện pháp bảo vệ phù hợp như đeo khẩu trang , rửa tay thường xuyên… sẽ là giảm nguy cơ lây bệnh xuống thấp hơn rất nhiều lần.

Một số môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao như khu vực tập trung đông người, môi trường kín không khí lưu thông kém hoặc môi trường có nguy cơ xuất hiện nguồn bệnh cao như bệnh viện thì khả năng xuất hiện mầm bệnh cũng như nguy cơ lây nhiễm cũng cao hơn, do đó cần phải chú trọng hơn công tác phòng, chống bệnh tại các môi trường này. Với người có dấu hiệu bệnh thì cần hạn chế đi đến nơi đông người, tiếp xúc người trong khoảng cách gần… để hạn chế lây nhiễm cho người khác.

Sốt siêu vi là một bệnh phổ biến và tự giới hạn. Điều trị các triệu chứng của bệnh là chủ yếu. Cần nhập viện khi có dấu hiệu nặng. Áp dụng các biện pháp như rửa tay, đeo khẩu trang và cách ly đúng cách giúp phòng bệnh hiệu quả.

Nhận biết sốt siêu vi

Sốt siêu vi thường diễn tiến qua 4 giai đoạn:

– Giai đoạn nhiễm bệnh (ngày 1): Nhiễm siêu vi chưa có triệu chứng.

– Giai đoạn ủ bệnh (ngày 2- 4): Virus sinh sôi, thời kỳ này đã có khả năng gây bệnh.

– Toàn phát (ngày 5-9): Thời kỳ lây bệnh.

Triệu chứng của sốt siêu vi xảy ra đột ngột bao gồm sốt 38-41 0 C. Đa số trường hợp sốt trên 38.5 0 C đi kèm với các triệu chứng về đường hô hấp như đau họng, ngạt mũi, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước, ho khan.

Các triệu chứng toàn thân bao gồm đau cơ, mệt mỏi, chán ăn, tiêu chảy, ói, chóng mặt, đau đầu, mất ngủ. Triệu chứng tiêu hóa như buồn nôn, tiêu chảy thường gặp ở trẻ nhỏ. Đặc biệt người lớn tuổi thường có dấu hiệu không điển hình như sốt nhẹ, ớn lạnh, chán ăn, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, chóng mặt, đi lại yếu. Trẻ em sốt cao, bỏ ăn, bỏ bú, ít hoạt động hơn ngày thường.

– Giai đoạn hồi phục (ngày 10-14): Hết sốt, ăn uống ngon miệng. Hồi phục hoàn toàn trong các trường hợp bệnh nhẹ và không có biến chứng.

Sốt siêu vi không biến chứng chỉ cần điều trị ở nhà. Điều trị triệu chứng như hạ sốt giảm đau bằng thuốc thông thường, giảm ho, uống đủ nước (nước lọc, nước trái cây, nước có chất điện giải) và không cần truyền dịch. Nghĩ ngơi, ăn nhẹ, nên lựa chọn các loại thực phẩm dễ tiêu hóa.

Để giảm lây nhiễm người bệnh cần thực hiện cách ly tại nhà trong thời gian sốt siêu vi, nhất là trong thời điểm có sốt. Không đến cơ quan, trường học và nơi đông người. Hạn chế tiếp xúc với người thân trong gia đình. Đeo khẩu trang và thay khẩu trang thường xuyên. Rửa tay bằng các dung dịch rửa tay thông thường. Trở lại sinh hoạt bình thường khi người bệnh hết sốt trên 24 giờ mà không cần dùng thuốc hạ sốt.

Khi ho, hắt hơi, sổ mũi cần che bằng khăn giấy hay tay áo. Rửa tay sau khi ho hắt hơi giúp giảm lây nhiễm cho những người xung quanh. Khi phải chăm sóc người bệnh cần đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên và theo dõi các dấu hiệu của sốt siêu vi.

Biện pháp phòng ngừa khác bao gồm rửa tay thường qui, không đến gần người đang bị sốt, không sờ vào mắt mũi miệng, vệ sinh nhà cửa và nơi làm việc thường xuyên, chú ý vệ sinh các vật dụng dùng chung như tay nắm cửa, mặt bàn, cầu thang. Thông khí tốt nơi sinh hoạt bằng cách không mở máy lạnh liên tục và mở cửa thường xuyên.

Cách phòng bệnh hô hấp mạn tính tái phát mùa lạnh

Thời tiết chuyển lạnh là điều kiện thuận lợi cho virus, vi khuẩn phát triển, kích ứng đường hô hấp…

Các bệnh hô hấp mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe bệnh nhân, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Những bệnh lý thường gặp bao gồm: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, giãn phế quản,…

Tránh ô nhiễm không khí

Nhiều bụi, dị nguyên trong môi trường sống trong nhà là nguy cơ gây các đợt cấp bệnh phổi mạn tính như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Việc tạo môi trường sống trong nhà sạch làm giảm nguy cơ nhiễm trùng hô hấp, giảm nồng độ các dị nguyên gây các đợt cấp hen phế quản.

Chú ý tới vật nuôi trong nhà vì chúng có thể thải dị nguyên tới bất cứ nơi nào trong nhà, biện pháp tốt nhất là không nuôi bất cứ vật nuôi nào khi trong nhà đã có người được chẩn đoán hen phế quản hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Thay đổi nhiệt độ và độ ẩm cũng là những yếu tố nguy cơ làm xuất hiện các đợt nhiễm trùng hô hấp. Vì vậy, cần mặc ấm khi ra lạnh, giữ ấm mặt, cổ ngực bằng cách đeo khẩu trang, đội mũ, quàng khăn ấm khi ra đường, đặc biệt là những người làm việc ngoài trời.

Khi không có việc thật cần thiết thì không nên đi ra ngoài trời lúc sáng sớm hoặc đêm khuya vì lúc đó trời lạnh hơn. Tránh luyện tập gắng sức khi trời lạnh, độ ẩm không khí cao, hoặc môi trường nhiều bụi; tránh hút thuốc, khói thuốc và khói bếp, nên ở trong nhà có môi trường ổn định khi đang có đợt cấp của bệnh phổi mạn tính.

Cách phòng bệnh hô hấp mạn tính tái phát mùa lạnh - Hình 1

Thời tiết như hiện nay là yếu tố thuận lợi làm gia tăng đợt kịch phát của bệnh nhân hen phế quản, viêm phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).

Không hút thuốc lá, tránh khói thuốc

Hút thuốc làm giảm rất rõ sức đề kháng của niêm mạc đường hô hấp. Khi hút thuốc, các lông chuyển trên bề mặt các tế bào biểu mô phế quản bị giảm hoạt động, làm giảm thải chất nhầy khỏi đường hô hấp. Các tế bào bảo vệ khác như các tế bào bạch cầu, đại thực bào cũng hoạt động không hiệu quả, do vậy dễ xuất hiện nhiễm trùng hô hấp. Hút thuốc thụ động cũng có tác động tương tự.

Giảm tỷ lệ hút thuốc sẽ làm giảm đáng kể số bệnh nhân mắc bệnh phổi mạn tính trong tương lai, làm chậm lại đáng kể tốc độ xấu đi của chức năng thông khí phổi. Bên cạnh đó, không hút thuốc làm giảm tần suất các nhiễm trùng hô hấp, căn nguyên hàng đầu gây các đợt cấp của bệnh phổi mạn tính như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản,…

Về chế độ dinh dưỡng

Chế độ ăn rất quan trọng, vì vậy cần nâng cao sức đề kháng bằng việc tập thể dục đều đặn, đảm bảo chế độ dinh dưỡng đủ năng lượng, cân đối để có sức chống lạnh. Thường xuyên vệ sinh răng miệng, giữ đều nếp đánh răng sau khi ăn và trước khi ngủ để tránh nhiễm trùng răng miệng.

Tránh các thức ăn đã từng gây dị ứng, hoặc có thành phần sulfite thường thấy trong các chất bảo quản thực phẩm như khoai tây, tôm, hoa quả khô, bia, rượu đã qua chế biến vì thường gây các cơn hen.

Điều trị triệt để các đợt nhiễm trùng đường hô hấp

Các ổ nhiễm khuẩn mạn tính ở răng, lợi, miệng, tai, mũi, họng cần được điều trị triệt để nhằm tránh vi khuẩn lan xuống đường hô hấp dưới. Viêm phổi thường có xu hướng nặng hơn ở người già trên 65 tuổi, hoặc ở những người mắc các bệnh phổi mạn tính như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản, xơ phổi,…

Do vậy, những bệnh nhân này cần tuân thủ đúng chế độ điều trị bệnh đang mắc; ở những bệnh nhân nằm lâu, cần thay đổi tư thế thường xuyên kết hợp vỗ rung lồng ngực. Việc vỗ rung và dẫn lưu tư thế hàng ngày giúp bệnh nhân ho khạc đờm tốt, giảm ứ đọng đờm trong đường thở, do vậy cải thiện tình trạng viêm niêm mạc đường thở. Liệu pháp này đặc biệt có ý nghĩa với những bệnh nhân giãn phế quản.

LEAVE A REPLY